Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

đánh giá về tình hình xuất khẩu gạo ở việt nam trong giai đoạn 1989-2003


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đánh giá về tình hình xuất khẩu gạo ở việt nam trong giai đoạn 1989-2003": http://123doc.vn/document/1054128-danh-gia-ve-tinh-hinh-xuat-khau-gao-o-viet-nam-trong-giai-doan-1989-2003.htm


trong thời gian từ năm 1989 - 2003
I. Đánh giá chung về tình hình của Việt Nam đối với sản xuất
và tiêu dùng gạo trong thời gian qua.
1. Về tình hình tiêu dùng
Sản lợng lúa tăng nhanh, đã đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nớc.
Trong thời gian từ 1991 -2000, tiêu dùng gạo đã tăng khoảng 3%. Con số
này lớn hơn 2,1% tăng dân số /năm trong cùng thời gian này.
Từ năm 1991, Việt Nam không những đủ gạo tiêu dùng trong nớc
mà còn d thừa để xuất khẩu.
Xem biểu đồ về tốc độ phát triển liên hoàn của sản lợng và tiêu dùng
của Việt Nam qua các năm.

0
20
40
60
80
100
120
140
160
180
1990
1992
1994
1996
1998
san luong
san luong tieu
dung noi dia
Biểu đồ về tốc độ tăng liên hoàn của sản xuất và tiêu dùng
Qua biểu đồ trên cho chúng ta thấy sản lợng sản xuất và mức độ tiêu
dùng gạo trong nớc, từ đó có thể nhận thấy sản lợng gạo d thừa để xuất
khẩu.
Sản lợng thóc dự trữ và tiêu dùng trong nớc từ năm 1991-2000 luôn chiếm
trên 80% sản lợng thóc sản xuất. Lợng thóc này d thừa để đảm bảo an ninh
lơng thực trong nuớc. Năm 1996 tiêu thụ lúa gạo trong nuớc bình quân
đầu ngời 162,2 kg/ngời/năm (nông thôn 14,3 kg và thành thị 11,4 kg/ng-
ời/tháng). Mức tiêu thụ gạo này của nớc ta đợc đánh giá là mức tiêu thụ
gạo/ngời cao nhất thế giới và ít có khả năng tăng mức tiêu thụ này lên nữa.
Trong khi đó, sản lợng thóc bình quân đầu ngời ở nớc ta năm 1998 là 364
kg tơng đơng với 236 kg gạo. Nh vậy tính trung bình mỗi ngời dân đợc
khoảng 50-70 kg gạo. Số lợng gạo này để dự trữ và xuất khẩu.
Cùng với việc tăng sản lợng và d thừa trong nớc, sự phát triển của
ngành gạo phụ thuộc vào nhịp độ tăng trởng trong xuất khẩu gạo.Vì thị tr-
5
ờng trong nớc không thể tiêu thụ hết sản lợng gạo tăng lên, giá gạo sẽ
giảm đi, trừ khi nhu cầu về gạo ở ngoài nớc tạo ra một lối thoát cho việc
tăng lên của sản lợng gạo. Nếu xuất khẩu gạo không đợc phép mở rộng,
nông dân sẽ không có động cơ tăng cờng sản xuất mặc dù các chính sách
về lúa gạo vẫn khuyến khích sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, phát
triển ngành gạo trong tơng lai phụ thuộc vào xuất khẩu.
2. Về tình hình sản xuất
Từ năm 1991 chúng ta đã giải quyết đợc vấn đề lơng thực, đủ ăn và bắt
đầu tham gia vào thị trờng lúa gạo thế giới.
Sản lợng lúa bình quân thời kỳ 1987-1991 đạt 17,2652 triệu tấn ; thời
kỳ 1992-1996 đạt 22,504 triệu tấn; thời kỳ 1997-2000 đạt 28,61 triệu tấn
và năng suất lúa trong thời kỳ này cũng liên tục tăng: 1987-1991 là 29,8
tạ/ ha ; năm 1992-1996 là 34,3 tạ/ha; năm 2000 đạt 40,8 tạ/ha và năm
2001 khoảng 42,62 tạ/ha. So sánh với một số nớc trên thế giới, tốc độ tăng
năng suất lúa của Việt Nam tơng đối cao.
Sản lợng lúa cả nớc đạt 32,7 triệu tấn, tăng 1,31 triệu tấn so với năm
2000 (lúa đông xuân tăng 1,46 triệu tấn, lúa hè thu giảm 214 nghìn tấn và
lúa mùa tăng khoảng 69 nghìn tấn). Nguyên nhân chính của việc tăng sản
lợng lúa năm 2001 là tăng năng suất, còn diện tích tăng không đáng kể.
Tổng diện tích lúa cả năm đạt 7673,3 nghìn ha, chỉ tăng 0,26% (20 nghìn
ha) so với năm 2000, Trong khi đó các tỉnh phía Nam đạt 5083,5 nghìn ha
giảm 21 nghìn ha (chủ yếu lúa hè thu và lúa mùa), các tỉnh phía Bắc đạt
2589,8 nghìn ha, tăng 41 nghìn ha (1,61%). Năng suất lúa bình quân cả
năm ớc đạt 42,62 tạ/ha, tăng 1,5 tạ/ha so với năm 2000, miền Bắc đạt 46,5
tạ /ha (tăng 2,2 tạ / ha), miền Nam đạt 40,5 tạ/ha (tăng 1,29 tạ/ha, nguyên
nhân năng suất tăng do cơ cấu giống lúa của các tỉnh niềm Bắc thay đổi
nhanh theo hớng tăng tỷ lệ diện tích các giống lúa lai, lúa thuần có năng
suất cao, chủ yếu trong vụ đông xuân.
Vụ đông xuân, cả nớc gieo cấy 3012 nghìn ha, tăng 4,26% so với vụ
đông xuân trớc, trong đó các tỉnh phía Bắc đạt 1162 nghìn ha, tăng 3,64%;
các tỉnh phía Nam đạt 1850 nghìn ha và tăng 4,66%. Theo báo cáo chính
thức của các địa phơng, năng suất đạt 51,66 tạ/ ha, tăng 2,8 tạ/ha, sản lợng
lúa vụ đông xuân đạt 15,56 triệu tấn, tăng 10,33% (1,45 triệu tấn) so với
vụ đông xuân 2000, các tỉnh phía Bắc đạt 6,15 triệu tấn, tăng 11,78%; các
tỉnh phía nam đạt 9,41 triệu tấn, tăng 9,4%. Nhờ vụ lúa đông xuân đợc
mùa lớn và toàn diện nên đã bù lại thiệt hại do lũ lớn ở đồng bằng sông
Cửu Long vụ hè thu.
Vụ hè thu gieo cấy 2297,8 nghìn ha, giảm 43,4 nghìn ha so với vụ hè
thu trớc, trong đó các tỉnh Bắc Trung Bộ đạt 146,8 nghìn ha, tăng gần 6
nghìn ha, miền Nam giảm 49,3 nghìn ha chỉ đạt 2151 nghìn ha (97,76% so
6
với vụ trớc). Diện tích gieo cấy lúa mùa của cả nớc đạt 2363,5 nghìn ha,
giảm 60 nghìn ha so với vụ trớc, chủ yếu do nhiều địa phơng đồng bằng
sông Cửu Long đã chuyển sang gieo sạ lúa đông xuân. Năng suất lúa mùa
năm 2001 đạt 36,39 tạ/ha, tăng 1,19 tạ/ ha sản lợng đạt khoảng 8,6 triệu
tấn, tăng trên 69 nghìn tấn so với vụ trớc.
Không chỉ riêng năm 2001, mà trong suốt hơn 10 năm qua, sản xuất l -
ơng thực nói chung và sản xuất lúa gạo nói riêng của Việt Nam đạt đợc
những kết quả to lớn và ổn định chủ yếu do một số nguyên nhân sau:
Một là: Thực hiện đồng bộ các tiến độ kỹ thuật trong thâm canh lúa
+ Thuỷ lợi hoá

: Tuy còn nhiều khó khăn song Nhà nớc đã đầu t cơ sở
vật chất xây dựng hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp. Việc
tập trung đầu t khai thác vùng Đồng Tháp Mời, tứ giác Long Xuyên, Tây
sông Hậu và bán đảo Cà Mau đã tạo ra kết quả to lớn trong sản xuất lúa.
Tính đến năm 2001 diện tích đất canh tác đợc tới đạt trên 7 triệu ha và
diện tích đợc tiêu khoảng 1 triệu ha.
+ Đ

a các giống mới vào sản xuất

: Đây là tiền đề tăng năng suất lúa
trong những năm qua. Tỷ lệ giống mới trong sản xuất chiếm khoảng 90%
và đợc bố trí phù hợp với điều kiện sinh thái khác nhau.
+ Chuyển đổi cơ cấu mùa vụ

: Vấn đề chuyển đổi cơ cấu mùa vụ là một
trong những yếu tố cơ bản đảm bảo cho diện tích và sản lợng tăng vững
chắc trong suốt những năm qua, đồng thời đóng vai trò quyết định để tăng
tổng sản lợng trong cả nớc. Vùng đồng bằng sông Hồng nổi lên với trà lúa
xuân muộn, nhiều tỉnh đa tỷ lệ lên đến 60 - 70 % diện tích. Phát triển vụ
lúa hè thu ở Miền Trung, tránh ma bão và đảm bảo thu hoạch an toàn. ở
đồng bằng sông Cửu Long cũng thay đổi và đi dần vào ổn định với xu h-
ớng tăng dần diện tích chỉ gieo cấy một vụ lúa mùa.
+ Lĩnh vực bảo vệ thực vật cũng đạt đ

ợc những thành tích nhất định

:
áp dụng thành công biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM), sử dụng giống
chống chịu hạn, biện pháp canh tác
Những chơng trình khuyến nông có ý nghĩa quan trọng trong chuyển
giao tiến bộ kỹ thuật cho nông dân và tạo ra phơng thức dịch vu sản xuất
mới ở nông thôn hiện nay
Hai là: Đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, mở rộng quyền tự chủ
của hộ gia đình, nông dân phấn khởi đẩy mạnh thâm canh, mở rộng diện
tích gieo trồng lúa hè thu và chiêm xuân (chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu
Long) là nguyên nhân chính trong tăng diện tích sản xuất lúa.
Năm 1999, Nhà nớc chủ trơng bảo vệ quỹ đất hiện có (4,2 triệu ha) và
tiếp tục đầu t mở rộng. Sang năm 2001, chính sách đất trồng lúa có những
7
thay đổ linh hoạt hơn, giữ ổn định 4 triệu ha đất có điều kiện tới tiêu, chủ
động. Thuế suất, thuế chuyển quyền sử dụng đất sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối giảm từ 10% trớc đây xuống
còn 2%.
Nhờ những thay đổi kịp thời và hợp lý của các chính sách đất đai, diện
tích đất sản xuất lúa tính đến năm 2000 đã có khoảng 5,7 triệu ha đất nông
nghiệp (khoảng 78%) đợc giao cho nông dân; 10,2 triệu hộ nông dân
(87%) đợc cấp giấy chứng nhận chuyển quyền sử dụng đất. Đây là yếu tố
cơ bản trong việc thâm canh ổn định sản xuất.
Ba là: Do tác động đồng bộ của nhiều cơ chế, chính sách mới về đầu t,
tín dụng, vật t nông nghiệp và khuyến nông đã tạo ra động lực thúc đẩy
phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế nông thôn và đóng vai trò rất quan
trọng trong thành tích sản xuất lơng thực thời gian qua.
II. Thực trạng xuất khẩu gạo của Việt Nam từ năm 1989
đến Nay
1. Chất lợng và chủng loại gạo xuất khẩu
1.1. Chất lợng gạo xuất khẩu
Chất lợng gạo có liên quan đến một loạt các yếu tố sản xuất nh đất đai,
thuỷ lợi, phân bón, giống, chế biến, vận chuyển, bảo quản Trong đó,
giống lúa và công nghệ chế biến sau thu hoạch đóng vai trò quan trọng và
quyết định phẩm chất luá gạo hàng hoá. Giải pháp về giống lúa cần đi trớc
một bớc, kể cả nghiên cứu triển khai và áp dụng vào thực tiễn nhằm tạo ra
tiền đề cơ bản trong sản xuất. Những năm qua, hàng loạt giống lúa mới
chọn tạo và nhập nội đợc hội đồng khoa học Bộ Nông nghiệp và phát triển
nông thôn công nhận giống quốc gia đa vào sản xuất ở các vùng sinh thái
khác nhau, đã là yếu tố quyết định đa năng suất lúa của nớc ta tăng ổn định
và vững chắc. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng sản xuất lúa gạo xuất
khẩu chính của nớc ta,nhng thực tế ở vùng này gieo cấy trên 70 loại giống
lúa và trong đó chỉ có 5 giống lúa có thể xuất khẩu đợc là IR9729, IR64,
IR59606, OM997-6 và OM132. Giống lúa chủ lực cho xuất khẩu ở phía Bắc
hiện nay là C70, C71, CR203, Q5, IR1832 và nói chung đợc gọi là gạo
trắng Việt Nam có chất lợng từ trung bình đến thấp.
Bộ giống lúa chất lợng cho xuất khẩu của nớc ta hiện nay khá phong
phú, tuy nhiên chúng ta vẫn thiếu những giống có giá trị cao trên thị trờng
gạo thế giới (giá từ 700-1000 USD/tấn). Để khai thác tiềm năng xuất khẩu
gạo của đất nớc, việc tổ chức, quy vùng sản xuất, nghiên cứu chọn tạo
nhằm tìm ra các giống lúa tốt là một trong những khâu quan trọng có ý
nghĩa quyết định hiệu quả kinh tế của ngành xuất khẩu lúa gạo nớc ta.
Đối với vụ lúa mùa, giống lúa cao sản IR45 (NN43) hiện nay là giống
8
lúa điển hình đạt chất lợng xuất khẩu, khách hàng chấp nhận, nông dân
thích trồng vì dễ cấy, chịu phèn và mặn tốt có khả năng cao thời gian sinh
trởng ngắn (140 -145 ngày)
ở đồng bằng sông Cửu Long, giống lúa ngắn ngày X21 và giống lúa lai
hệ 3 dòng HR1 đạt chất lợng xuất khẩu, lại có u thế canh tác, năng xuất
cao (6-10 tấn/ha), chịu rét thích ứng với nhiều loại đất phèn, mặn và kháng
phèn tốt.
Chất lợng gạo xuất khẩu gồm nhiều tiêu thức nh hình dáng, kích cỡ,
mùi vị, tạp chất nhng trong đó tỷ lệ tấm đóng vai trò quan trọng, thờng
đợc quan tâm tới. Dới đây chúng ta xem bảng phản ánh chất lợng gạo xuất
khẩu của Việt Nam trong mấy năm qua và bảng tiêu chuẩn phân loại của
viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) 1980.
Bảng chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam
(% so với tổng số lợng xuất khẩu trong năm đó)
Tốc độ tăng liên hoàn chất lợng gạo xuất khẩu
(%)
Cao Trung bình Thấp
1990 1.0 2.5 96.5 100 100 100
1991 14.3 8.7 77.0 143.0 348.0 78.97
1992 35.1 10.0 55.0 245.45 119.94 71.43
1993 40.3 15.2 45.0 114.15 152.0 81.82
1994 51.2 21.4 28.0 127.05 140.79 62.22
1995 70.0 13.0 17.0 136.72 60.75 60.71
1996 54.8 22.7 22.5 78.29 174.62 129.41
1997 49.0 13.0 38.0 89.42 57.27 168.89
1998 44.0 8.0 48.0 89.80 61.54 126.32
1999 53.0 11.0 36.0 120.45 137.5 75
2000 30 30 40.0 68.18 375 125
Nguồn: Tổng cục Thống Kê
Bảng tiêu chuẩn phân loại gạo của Viện Nghiên cứu lúa quốc tế
(IRRI): 1980
Chiều dài hạt gạo chia thành 4 cấp (mm)
9
Cấp 1 - rất dài > 7,50
Cấp 2 - dài > 6,61 - 7,50
Cấp 5 - trung bình 5,51 - 6.61
Cấp 7 - ngắn < 5,50
Hình dạng hạt gạo: tỷ lệ chiều dài / rộng (D/R)
Cấp 1 - thon > 3,0
Cấp 3 - trung bình 2,1 - 3,0
Cấp 5 - bầu 1,1 - 2,0
Cấp 9 - tròn
1,0
Kích thớc và hình dáng dạng hạt gạo
Hạt rất dài D >7
Hạt dài
6 D 7
Hạt trung bình
5 D 6
Hạt ngắn D < 5
Hạt thon dài D/R > 3
Hạt thon trung bình
2 D/R 3
Hạt hơi thon D/R < 2
Độ bạc bụng ( 4 loại - điểm)
Điểm 0 Không có vết đục trong gạo
Điểm 1 Vết đục chiến ít hơn 10% diện tích hạt
Điểm 5 Vết đục chiếm từ 11 -20 % diện tích hạt
Điểm 9 Vết đục chiếm hơn 20% diện tích hạt
Trong mấy năm gần đây, chất lợng gạo của Việt Nam đã tăng lên, gạo
phẩm cấp cao chiếm 40% tổng số gạo xuất khẩu. Tốc độ tăng của gạo
phẩm cấp cao hàng năm là không ổn định. Từ năm 1991-1995, tốc độ tăng
bình quân hàng năm là 0,53 lần (53%/năm). Từ năm 1996-1998, tốc độ
này giảm xuống còn 0,14 lần (14%/năm)nhng tốc độ của cả giai đoạn xuất
khẩu lại tăng lên gần 0,27 lần (27%/năm). Trong khi đó tốc độ tăng của
gạo trung bình và thấp là 0,19 lần (19%/năm), tăng chậm hơn tốc độ tăng
của gạo phẩm cấp cao.
Có thể nói rằng gạo phẩm cấp cao của ta xuất khẩu cha nhiều, đa phần
chỉ là gạo loại trung bình và các loại gạo khác. Do đó, kim ngạch thu về
thờng không cao. Riêng năm 1999, gạo cấp cao của Việt Nam xuất khẩu
1 0
tăng vợt, chiếm 53%, đã góp phần làm tăng giá gạo xuất khẩu, khiến kim
ngạch đạt 1016 triêu USD, tăng 11,35%, mặc dù sản lợng chỉ tăng gần 3%
so với năm 1998.
Tóm lại, chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam trong mấy năm qua
tăng lên rõ rệt; các loại gạo 5% tấm tăng từ 0,3 lên 30% trong tổng l -
ợng gạo xuất khẩu. Cả hai cấp gạo có tỷ lệ tấm thấp (5% và 10%) hiện
nay chiếm từ 53 - 60% tổng lợng xuất khẩu. Còn gạo có tỷ lệ tấm cao
35 - 45% đã giảm mạnh từ 92% nay chỉ còn chiếm 5% tổng lợng gạo
xuất khẩu.
Năm 1997 cho đến hết năm 1998 tỷ trọng nhóm gạo xuất khẩu cấp cao
lại giảm và nhóm gạo cấp thấp (tỷ lệ tấm cao 30 - 45%) lại có xu hớng
tăng. Tình hình này không có nghĩa chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam
bị tụt lùi. Ngợc lại, đó là sự ứng sử hợp lý trong chiến lợc kinh doanh xuất
khẩu gạo của ta, căn cứ vào nhu cầu và giá cả thực tế của thị trờng gạo thế
giới trong điều kiện giá tăng mạnh, nhiều nớc nghèo do sức mua hạn chế
nên thờng tập trung vào tiêu dùng loại gạo có chất lợng thấp, đẩy giá loại
gạo này tăng nhiều hơn so với gạo chất lợng cao. Do vậy, việc tăng tỷ
trọng gạo xuất khẩu cấp thấp là cách ứng sử tình huống nhằm nâng cấp
hiệu quả kinh doanh đơng nhiên, trong chiến lợc lâu dài, Việt Nam vẫn
chủ trơng tăng tỷ trọng xuất khẩu gạo chất lợng cao theo xu hớng phát
triển chung của thị trờng gạo thế giới.
Nh vậy chất lợng gạo là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc đẩy
mạnh hơn nữa về số lợng gaọ xuất khẩu trong những năm tới, đó là yếu tố
quan trọng để có thể tìm kiếm đợc cho Việt Nam có đợc một thị trờng
xuất khẩu gạo vững chắc và ngày càng mở rộng đợc thị trờng về gạo tạo ra
tiềm năng cho ngành nông nghiệp nói chung và về gạo nói riêng. Ngoài ra
thì công nghệ chế biến cũng là yếu tố vô cùng quan trọng trong xuất khẩu
gạo.
1.2. Chủng loại gạo xuất khẩu
Về chủng loại gạo xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu vẫn là gạo tẻ hạt
dài đợc sản xuất ở đồng bằng sông Cửu Long. Trong cơ cấu xuất khẩu đó,
gạo đặc sản truyền thống cha đợc chú trọng phát triển. Chúng ta mới chỉ
bớc đầu xuất khẩu gạo tám thơm đợc trồng ở miền Bắc, gạo Làng Hơng
với số lợng nhỏ và không đều đặn qua các năm
Trong thời kỳ bao cấp trớc đây (1957-1987), xuất khẩu gạo đặc sản của
Việt Nam không thờng xuyên và với số lợng nhỏ, ở mức trên dới 10000
tấn /năm. Song năm 1998 và 1999 con số này cũng chỉ đạt 120 và 105
nghìn tấn. Riêng có Vinafood Hà nội xuất khẩu trên 500 tấn gạo đặc sản
sang thị trờng Hồng Kông, Xingapore vào năm 1988, trong khi đó khả
năng xuất khẩu thực tế có thể đạt đợc 2000-3000 tấn vì lợng xuất khẩu
1 1
quá nhỏ lại không thờng xuyên cho nên nhìn chung xuất khẩu gạo đặc sản
Việt Nam cha đem lại hiệu quả lớn. Trong khi đó, Thái Lan những năm
qua vẫn đẩy mạnh xuất khẩu gạo đặc sản (mali) với giá cao, gấp 1,5 lần
loại gạo tốt "Thái 100B" và khoảng 2,5 - 3 lần so với đặc sản, với giá 702
USD/tấn vào thị trờng Tây Âu. Theo FAO, năm 1997 xuất khẩu gạo đặc
sản của Thái Lan đạt khoảng 400 triệu USD, thị trờng chủ yếu là Mỹ,
Hồng Kông, Tây Âu và Xingapore. Theo đánh giá của ngời tiêu dùng, gạo
đặc sản mali của Thái Lan không có hơng vị thơm ngon độc đáo nh gạo
đặc sản Tám Xoan ở vùng đồng bằng sông Cửu Long cuả Việt Nam . Về
giá trị kinh tế, xuất khẩu gạo đặc sản sẽ bảo đảm tăng nhanh kim ngạch
xuất khẩu, thị trờng tơng lai, lại a chuộng chủng loại gạo quí hiếm này.
Vấn đề chính ở đây vẫn là khả năng phát triển sản xuất trong nớc để có thể
thoả mãn đợc nhu cầu của thị trờng nớc ngoài.
2. Thị trờng và giá cả xuất khẩu.
2.1. Thị trờng xuất khẩu gạo của Việt Nam
Thái Lan và Mỹ là những nớc xuất khẩu gạo truyền thống từ nhiều
thập niên nay. Do vậy họ đã thiết lập đợc mối quan hệ lâu dài và ổn định
về thị trờng và khách hàng tiêu thụ bằng một hệ thống chính sách cụ thể
đối với từng khu vực và từng nớc tiêu thụ của mình.Việt Nam chỉ là nớc
xuất khẩu gạo lớn kể từ năm 1991. Từ thực tế đó, việc thâm nhập và mở
rộng thị trờng của Việt Nam trong những năm đầu đã gặp không ít gian
nan vì thờng đụng đến những khu vực thị trờng quen thuộc của các nớc
xuất khẩu truyền thống, đặc biệt là Thái Lan.
Bảng: Thị trờng xuất khẩu của Việt Nam trong 3 năm điển hình (%)
Các khu vực tiêu thụ /
năm
1991 1993 1996
Châu á
50,0 44,6 79,0
Trung Đông 0,0 10,5 10,0
Châu Phi 49,0 35,5 10,0
Châu Mỹ 0,9 15,1 09,0
Châu Âu 0,01 04,8 02,0
Thị trờng khác 0,09 0 0
Nguồn: Bộ Thơng Mại
Qua bảng cho thấy ngay từ năm 1991, thị trờng xuất khẩu chủ yếu
của Việt Nam là Châu á và Châu phi và có một số đặc điểm sau
Một là

: Từ năm 1991 đến năm 1993 thị trờng xuất khẩu gạo của
1 2
Việt Nam sang Châu á và Châu Phi thì không chênh lệch nhau lắm và so
với Thái Lan thì trong thời gian này thì tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam
sang Châu á nhỏ hơn của thái lan (năm 1991 tỷ trọng xuất khẩu của Thái
Lan sang thị trờng này là 64,6%, năm 1993 là 55,5%), nhng tỷ trọng của
Việt Nam xuất khẩu gạo sang thị trờng Châu phi lại lớn hơn của Thái lan
(năm 1991 tỷ trọng của Thái Lan sang thị trờng này là 20,6% và năm 1993
là 25%).Nhng đến năm 1996, thực tế tỷ trọng xuất khẩu của Việt Nam
sang các nớc Châu á tăng mạnh, sang các nớc Châu Phi giảm.
Hai là:

Trong những năm đầu, đại bộ phận gạo xuất khẩu của Việt
Nam thờng phải thông qua môi giới trung gian.
Đến năm 1996 - 1997 tuy gạo Việt Nam đã có mặt trên 80 nớc nhng
phần gạo xuất khẩu qua trung gian vẫn chiếm phần đáng kể. Do đó để tăng
cờng xuất khẩu vấn đề tìm kiến thị trờng là vấn đề quan trọng.
Trong hoàn cảnh kinh tế hiện nay và những thay đổi kinh tế ở nhiều
nớc trên thế giới và khu vực, thị trờng gạo của Việt Nam cũng có nhiều
thay đổi.
Bảng: Thị trờng xuất khẩu gạo của Việt Nam (%)
Thị trờng / năm 2003 2002 1999 2000
Châu á
59 48 70,8 54,3
Trung Đông 9 29 10,9 12,3
Châu Phi 20 10 7,4 22,7
Châu Mỹ 8 7 3 6,2
Châu Âu 4 6 3,9 3,7
Châu Đại Dơng 0 0 0,6 0,4
Nớc cha xác định 0 0 3,2 0,1
Năm 2003 thị trơng xuất khẩu gạo chính của Việt Nam vẫn là các n-
ớc Châu á, mặc dù tỷ trọng so với năm trớc giảm xuống chỉ chiếm 59%
tổng lợng gạo xuất khẩu (so với 70,8% của năm 1999). Các quốc gia nhập
1 3
khẩu gạo chính của Việt Nam vẫn là Indônexia, Malaysia và Philipin
Lợng gạo xuất đi các nớc Châu Âu nh Thụy sỹ, áo, Anh, Hungary,
Tây ban Nha đạt 4% tổng lợng gạo xuất khẩu, có lúc đạt tới 6% (năm
2002) trong khi đó năm 1999 là 3,9%.
Lợng xuất khẩu gạo của Việt Nam đạt trên 4 triệu tấn trong hoàn
cảnh thị trờng nhiều biến động là cố gắng lớn của các doanh nghiệp Việt
Nam. Điều này cho thấy, chính sách giao quyền tự chủ kinh doanh cho các
nhà xuất khẩu và tăng đầu mối xuất khẩu gạo của Chính Phủ là đúng đắn
và hiệu quả.
Năm 2003 lợng gạo xuất khẩu đi Trung Đông giảm xuống, còn 9%,
còn lợng xuất đi Châu phi lại tăng lên 20%.
Năm 2000, gạo xuất khẩu với tỷ lệ gạo phẩm cấp cao giảm đi đáng
kể so với năm 1999, trong khi đó gạo phẩm cấp thấp tăng lên, chứng tỏ
gạo phẩm cấp thấp và trung bình cũng có thị trờng không nhỏ, đây cũng là
lợi thế cạnh tranh xuất khẩu gạo của Việt Nam.
Năm 2003 lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam đạt mức 3,89 triệu tấn
tang so với năm trớc 0,65 triệu tấn là do một số thị trờng nhập khẩu gạo
lớn nh Indonexia, Bangladesh, philippin tang lợng nhập khẩu.
2.2. Giá gạo xuất khẩu
Giá cả là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của một nền kinh tế trên
thị trờng. Thực tế giá cả phụ thuộc nhiều yếu tố: quan hệ cung cầu, điều
kiện khí hậu thời tiết (những biến cố về khí hậu), thời vụ, yếu tố chính trị
xã hội Trong đó, yếu tố chi phối nhiều nhất và quan trọng là chất lợng
phẩm chất gạo. Cụ thể nh, trong trờng hợp của Mỹ tuy khối lợng xuất
khẩu gạo của Mỹ không dẫn đầu nhng khả năng chi phối đối với thị trờng
gạo thế giới của Mỹ vẫn rất lớn. Mỹ cạnh tranh và chi phối xuất khẩu bằng
chất lợng u việt so với gạo Thái lan vì Mỹ có lợi thế hơn hẳn về khoa học
công nghệ trong khâu chế biến và thiết bị kho tàng bảo quản.
Trong những năm gần đây, chất lợng gạo của Việt Nam liên tục
tăng. Bằng chứng về uy tín chất lợng gạo xuất khẩu của Việt Nam đang đ-
ợc cải thiện là mức chênh lệch giá gạo của Việt Nam và Thái Lan giảm đi
rõ rệt và ngày càng nhích lại gần với giá gạo của các nớc. Năm 2000 lợng
1 4

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét