Chủ Nhật, 20 tháng 4, 2014

Điều dưỡng cơ bản


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "Điều dưỡng cơ bản": http://123doc.vn/document/573964-dieu-duong-co-ban.htm


Có một điều cần ghi nhớ là trong hơn 40 năm (từ 1948-1989) phòng y vụ bệnh viện đã chỉ đạo công tác
điều trị và điều dưỡng, nên:
+
Kỹ thuật chăm sóc còn nhiều lúng túng.
+
Các chính sách điều dưỡng chưa được quan tâm đúng mức.
+
Một số đơn vị đã tự động cho điều dưỡng viên giỏi chuyển ngạch để học chuyên tu bác sĩ. Mỗi tỉnh có
trường trung học y tế riêng tự đào tạo cán bộ điều dưỡng, nhưng vì thiếu phương tiện đào tạo và cũng do
quan niệm điều trị bao trùm, không đánh giá đứng tầm quan trọng của công tác điều dưỡng nên đã đặt nặng
phần bệnh lý, xem nhẹ phần kỹ thuật chăm sóc.
Năm 1982 Bộ Y tế ban hành chức danh y tá trưởng bệnh viện và y tá trưởng khoa.
Năm 1985, một số bệnh viện đã xây dựng phòng điều dưỡng, tổ điều dưỡng tách ra khỏi phòng y vụ.
Ngày 14 tháng 7 năm 1990, Bộ Y tế ban hành quyết định số 570/BYT-QÐ thành lập phòng điều dưỡng
trong các bệnh viện có trên 150 giường bệnh. Ngày 14 tháng 3 năm 1992 Bộ trưởng Bộ Y tế ra quyết định
356/BYT-QÐ thành lập phòng y tá của Bộ đặt trong Vụ quản lý sức khỏe (Vụ điều trị).
Ngày 10 tháng 6 năm 1993, Bộ Y tế ra quyết định số 526 kèm theo quy định về chế độ trách nhiệm của y tá
trong việc chăm sóc bệnh nhân tại bệnh viện. Cùng ngày đó, Vụ Quản lý sức khỏe (nay là Vụ điều trị) ra
công văn số 3722 về việc triển khai thực hiện quy định trên.
Về đào tạo, năm 1985, Bộ Y tế được Bộ Đại học và THCN đồng ý, đã tổ chức khóa đào tạo đại học điều
dưỡng đầu tiên tại trường Ðại học y khoa Hà Nội, Y dược thành phố Hồ Chí Minh (năm 1986). Ðây là mốc
lịch sử quan trọng trong lĩnh vực đào tạo điều dưỡng ở nước ta. Tổ chức y tế thế giới rất hoan nghênh chủ
trương này, vì từ đây Bộ Y Tế đã xác định được hướng đi qua ngành điều dưỡng, coi đây là ngành nghề
riêng biệt, chứ không suy nghĩ như trước đây cho y tá giỏi học chuyên tu thành bác sĩ. Năm 1994 Bộ Giáo
dục - Ðào tạo và Bộ Y tế lại tiếp tục cho phép đào tạo cử nhân điều dưỡng, nữ hộ sinh, kỹ thuật viên y học
khóa III tại Trường Trung học kỹ thuật y tế trung ương III và Trường cao đẳng y tế Nam Ðịnh và dự kiến
đào tạo cử nhân điều dưỡng chính quy từ 1995 tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Riêng về đào tạo điều dưỡng trưởng, liên tục từ năm 1982 đến nay, nhiều lớp đào tạo điều dưỡng trưởng đã
được tổ chức tại các Trường trung học kỹ thuật y tế Trung ương I, II, III, THYT Bạch Mai, THYT Hà Nội,
Cao đẳng y tế Nam Ðịnh.
Ðến nay khoảng 50% điều dưỡng trưởng khoa, Ðiều dưỡng trưởng bệnh viện đã được đào tạo qua các lớp
quản lý điều dưỡng trưởng.
Năm 1986, Hội điều dưỡng khu vực thành phố Hồ Chí Minh mở đại hội thành lập. Năm 1989, Hội điều
dưỡng thủ đô Hà Nội và Hội điều dưỡng Quảng Ninh ra đời. Sau đó lần lượt một số tỉnh thành khác cũng
thành lập Hội Ðiều dưỡng, thôi thúc sự ra đời của Hội Ðiều dưỡng cả nước. Ngày 26 tháng 10 năm 1990,
Hội y tá - điều dưỡng Việt Nam mở đại hội lần thứ nhất tại hội trường Ba Ðình lịch sử. Nhiệm kỳ thứ nhất
của BCHTW Hội là 3 năm (1990-1993), BCH có 31 ủy viên ở cả 2 miền. Bà Vi Thị Nguyệt Hồ là chủ tịch,
3 phó chủ tịch là: cô Trịnh Thị Loan, cô Nguyễn Thị Niên, ông Nguyễn Hoa, Tổng thư ký là anh Phạm Ðức
Mục. Ngày 26 tháng 3 năm 1993, đại hội đại biểu y tá - điều dưỡng toàn quốc lần thứ 2 (nhiệm kỳ 93-97)
được tổ chức tại Bộ Y tế và ban chấp hành mới gồm 45 ủy viên, chủ tịch là bà Vi Thị Nguyệt Hồ, 3 phó
chủ tịch là: ông Nguyễn Hoa, cô Trịnh Thị Loan, ông Phạm Ðức Mục (kiêm tổng thư ký).
Từ khi thành lập đến 31-12-1994 đã có 28 tỉnh thành hội và trên 200 chi hội ra đời. Sự hoạt động của Hội
dã góp phần động viên đội ngũ y tá - điều dưỡng thêm yêu nghề nghiệp và thúc đẩy công tác chăm sóc tại
các cơ sở khám bệnh, làm chuyển đổi một phần bộ mặt chăm sóc điều dưỡng.
Về tình hình nhân lực y tá điều dưỡng theo số liệu 1989 là:
Trong quá trình phát triển nghề điều dưỡng ở Việt
Nam từ khi đất nước được thống nhất đến nay,
chúng ta đã được nhiều tổ chức điều dưỡng quốc tế
giúp đỡ cả về tinh thần, vật chất và kiến thức. Trong
các tổ chức đó phải kể đến đội ngũ điều dưỡng của
Thụy Ðiển. Trong một thời gian dài (từ 1980 đến
nay) tổ chức SIDA Thụy Ðiển đã liên tục đầu tư cho
việc đào tạo hệ thống điều dưỡng. Nhiều chuyên gia
điều dưỡng Thụy Ðiển đã để lại những kỷ niệm tốt
đẹp cho anh chị em điều dưỡng Việt Nam như Eva
Giohanson, Lola Carlson, Ann Mari Nilsson, Marian
Advison, Emma Sunberg Tổ chức y tế thế giới
cũng đã cử những chuyên gia điều dưỡng giúp chúng
ta như Chieko Sakamoto, Marget Truax, Miller
Theresa Cùng nhiều chuyên gia khác của tổ
chức Care lnternational, Tổ chức hợp tác khoa học
Mỹ- Việt hỗ trợ kinh phí và cử giáo viên từ Mỹ sang
Việt Nam để giúp Hội tổ chức 3 khóa học nâng cao kỹ năng quản lý và 3 khóa học nâng cao kỹ năng giảng
dạy cho 180 đại biểu điều dưỡng cả nước trong 2 năm 1994 và 1995.
Hiệp hội điều dưỡng Quốc tế Nhật Bản mới mời đại biểu điều dưỡng Việt Nam tham dự hội thảo Quốc tế
do Nhật tổ chức, năm 1993: 1 người và từ năm 1994: mỗi năm hai người. Hiện nay, Hội điều dưỡng Việt
Nam là một trong 16 nước thành viên tham gia Hiệp hội điều dưỡng Quốc tế Nhật Bản Các bạn đã giúp
chúng ta cả về kinh phí, kiến thức và tài liệu. Chúng ta không thể quên được sự giúp đỡ quý báu của các
bạn điều dưỡng quốc tế. Chính các bạn đã giúp chúng ta hiểu rõ nghề nghiệp của mình và phấn đấu cho sự
nghiệp điều dưỡng Việt Nam phát triển.
3. Kết luận
Trên đây là vài nét sơ lược về điều dưỡng thế giới và Việt Nam. Qua đây chúng ta cũng thấy lịch sử ngành
điều dưỡng Việt Nam gắn liền với lịch sử phát triển của đất nước. Trong kháng chiến chống Pháp, chống
Mỹ tuy ngành điều dưỡng Việt Nam chưa được coi là một ngành riêng biệt, nhưng đã được quan tâm và có
nhiều cống hiến to lớn. Chính nhờ công tác điều dưỡng mà nhiều thương binh đã được cứu sống trong điều
kiện rất khó khăn. Chúng ta có quyền tự hào về nghề của chúng ta, về các điều dưỡng viên được phong
danh hiệu anh hùng như: Hà Nguyên Thủy (chống Pháp), Trần Thị Huynh (Chống Mỹ ở miền Nam) và
hiện nay bà Vi Thị Nguyệt Hồ, Chủ tịch Hội điều dưỡng Việt Nam được ngành y tế đề nghị nhà nước
phong tặng danh hiệu thầy thuốc ưu tú.
Những thành tựu của ngành Ðiều dưỡng Việt Nam hiện nay chính là sự kết tinh truyền thống và kinh
nghiệm của những người đi trước truyền lại cho những thế hệ điều dưỡng hôm nay và mai sau. Ðó cũng là
sự giúp đỡ tận tình của các chuyên gia quốc tế. "Uống nước nhớ nguồn" thế hệ điều dưỡng chúng ta ngày
nay quyết phát huy truyền thống của dân tộc, của ngành điều dưỡng Việt Nam, không ngừng học tập, rèn
luyện để tiến bộ, góp phần xây dựng và phát triển ngành mạnh mẽ.
Nhu cầu cơ bản của con người và sự liên quan với điều dưỡng
1. Khái niệm
Ðối tượng của điều dưỡng là con người bao gồm người khỏe và người có bệnh tật. Con người được tạo ra
Y tá sơ học 55.406 người(chủ yếu ở nông
thôn)
Y tá trung học 17.248 người(chủ yếu ở bệnh viện)
Y tá đại học 133 người
Hộ sinh sơ học 3.593 người
Y sĩ trung học 5.025 người
Kỹ thuật viên y
học
5.842 người
Cộng 93.246 người
bởi các yếu tố thể chất, tinh thần và xã hội. Các nhu cầu cần thiết để duy trì các yếu tố tạo ra con người gọi
là nhu cầu cơ bản hay còn gọi là các nhu cầu để tồn tại và phát triển của con người.
Người ta cho rằng: mỗi một cá thể ở một phương diện nào đó giống tất cả mọi người, ở một phương diện
khác chỉ giống một số người và có những phương diện không giống ai cả. Như vậy, con người vừa có tính
đồng nhất vừa có tính duy nhất nên việc chăm sóc phải xuất phát từ nhu cầu và sở thích của từng cá nhân
sao cho phù hợp với từng đối tượng.
Tuy nhiên, khi một nhu cầu thiết yếu được thỏa mãn, con người chuyển sang một nhu cầu khác ở mức cao
hơn.
Bảng phân loại của "Maslow" phản ánh được thứ bậc của các nhu cầu, và có thể được sắp xếp như sau:
- Những nhu cầu về thể chất.
- Những nhu cầu về an toàn an ninh.
- Những nhu cầu thuộc về quyền sở hữu và tình cảm (được yêu thương).
- Những nhu cầu về sự kính mến và lòng tự trọng.
- Những nhu cầu về sự tự hoạt động bao gồm sự tự hoàn thiện, lòng ao ước muốn hiểu biết cùng với những
nhu cầu về thẩm mỹ.
Những nhu cầu ở mức độ thấp luôn tồn tại, cho đến khi những nhu cầu đã được thỏa mãn con người có khả
năng chuyển sang những nhu cấu khác ở mức độ cao hơn.
Khi một người (người bệnh) đòi hỏi có nhu cầu cao hơn, việc ấy chứng tỏ họ có sự khỏe khoắn trong tâm
hồn và thể chất.
Hệ thống thứ bậc của các nhu cầu rất hữu ích để làm nền tảng trong việc nhận định về sức chịu đựng của
người bệnh, những giới hạn và nhu cầu đòi hỏi cần có điều dưỡng.
2. Nhu cầu của con người:
Nhu cầu cơ bản của con người phân cấp theo Maslow:
Hình 1. Bậc thang nhu cầu của
MASLOW (trang 16)
2.1 Nhu cầu về thể chất và sinh
lý:
Là nền tảng của hệ thống phân cấp
nhu cầu, và được ưu tiên hàng đầu.
Nhu cầu thể chất bao gồm: oxy,
thức ăn, nước uống, bài tiết, vận
động, ngủ, nghỉ ngơi Các nhu cầu
này cần được đáp ứng tối thiểu để duy trì sự sống. Ðáp ứng nhu cầu thể chất là một phần quan trọng trong
kế hoạch chăm sóc cho trẻ em, người già, người có khuyết tật và người ốm. Bởi vì, những nhóm người này
cần sự hỗ trợ để đáp ứng nhu cầu cho chính họ.
2.2 Nhu cầu an toàn và được bảo vệ
Được xếp ưu tiên sau nhu cầu thể chất bao hàm cả an toàn về tính mạng và an toàn về tinh thần. An toàn về
tính mạng nghĩa là bảo vệ cho người ta tránh được các nguy cơ đe dọa cuộc sống và an toàn về tinh thần là
MỨC CAO Nhu cầu về sự tự hoàn thiện
Nhu cầu về sự kính mến và lòng tự trọng
Nhu cầu về quyền sở hữu và tình cảm (được yêu thương).
MỨC THẤP Nhu cầu về an toàn và an ninh
Nhu cầu về thể chất và sinh lý
tránh được mọi sự sợ hãi, lo lắng. Người bệnh khi vào bệnh viện có sự đòi hỏi rất cao về nhu cầu an toàn và
bảo vệ vì cuộc sống, tính mạng của họ phụ thuộc vào cán bộ y tế.
Ðể giúp bảo vệ người bệnh khỏi bị nguy hiểm, người điều dưỡng phải biết rõ tính chất, đặc điểm của bệnh
nhân và nhận biết rõ bất kỳ những tai biến nào có thể xảy đến cho bệnh nhân, và nếu có biến chứng xảy ra,
người điều dưỡng có thể xử trí một cách thông minh.
2.3 Nhu cầu tình cảm và quan hệ:
Mọi người đều có nhu cầu tình cảm quan hệ bạn bè, hàng xóm, gia đình và xã hội. Các nhu cầu này được
xếp vào nhu cầu ở mức cao. Nó bao hàm sự trao - nhận tình cảm và cảm giác là thành viên của gia đình,
đoàn thể, xã hội Người không được đáp ứng về tình cảm, không có mối quan hệ bạn bè, xã hội có cảm
giác buồn tẻ và cô lập. Người điều dưỡng cần xem xét nhu cầu này của bệnh nhân khi lập kế hoạch chăm
sóc.
2.4 Nhu cầu được tôn trọng:
Sự tôn trọng tạo cho con người lòng tự tin và tính độc lập. Khi sự tôn trọng không được đáp ứng người ta
tin rằng họ không được người khác chấp nhận nên sinh ra cảm giác cô độc và tự ty. Ðiều dưỡng đáp ứng
nhu cầu này của người bệnh bằng thái độ thân mật, niềm nở và chú ý lắng nghe ý kiến của người bệnh.
2.5 Nhu cầu tự hoàn thiện:
Là mức cao nhất trong hệ thống phân loại nhu cầu của Maslow và Maslow đánh giá rằng chỉ 1% dân số
trưởng thành đã từng đạt đến mức độ tự hoàn thiện. Nhu cầu tự hoàn thiện diễn ra trong suốt đời, nó chỉ
xuất hiện khi các nhu cầu dưới nó được đáp ứng trong những chừng mực nhất định. Các nhu cầu cơ bản
càng được đáp ứng thì càng tạo ra động lực sáng tạo và tự hoàn thiện ở mỗi cá thể. Người điều dưỡng cần
biết đánh giá đúng những nhu cầu, kinh nghiệm, kiến thức và thẩm mỹ của người bệnh để từ đó có sự quan
tâm và lập kế hoạch chăm sóc thích hợp.
3. Sự lạc quan giữa nhu cầu và nguyên tắc điều dưỡng.
3.1 Nguyên tắc điều dưỡng
Xuất phát từ việc đáp ứng nhu cầu người bệnh. Người khỏe mạnh tự đáp ứng được các nhu cầu của họ. Khi
bị bệnh tật, ốm yếu người bệnh không tự đáp ứng được nhu cầu hàng ngày cho chính mình nên cần sự hỗ
trợ của người điều dưỡng. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân dẫn đến sự ra đời của ngành y tế và cán bộ
y tế.
3.2 Nhu cầu của con người vừa có tính đồng nhất vừa có tính duy nhất
Nên điều dưỡng cần có kế hoạch chăm sóc riêng biệt cho từng bệnh nhân. Nhu cầu con người tuy cơ bản
giống nhau nhưng mức độ và tầm quan trọng đối với từng nhu cầu ở từng người có khác nhau. Hơn nữa,
trong cùng một con người nhu cầu này có thể mạnh hơn nhu cầu khác và thay đổi mức ưu tiên theo từng
giai đoạn của cuộc sống, người điều dưỡng cần nhận biết được các nhu cầu ưu tiên của người bệnh để lập
kế hoạch chăm sóc thích hợp.
3.3 Nhu cầu giống nhau nhưng cách đáp ứng có thể khác nhau
Để thích hợp với từng cá thể. Việc chăm sóc người bệnh cần hướng tới từng cá thể, tùy từng trường hợp
từng hoàn cảnh sao cho phù hợp.
3.4 Sự tham gia của người bệnh vào quá trình chăm sóc:
Chăm sóc xuất phát từ nhu cầu của người bệnh, thông thường người bệnh hiểu rõ nhu cầu của họ, trừ
trường hợp bệnh nhân hôn mê, tâm thần nên khi lập kế hoạch chăm sóc điều dưỡng cần tham khảo ý kiến
bệnh nhân và gia đình bệnh nhân để tạo cho họ tham gia tích cực vào quá trình điều trị, chăm sóc, phục hồi
sức khỏe cho chính họ.
3.5 Ðiều dưỡng cần tạo ra môi trường chăm sóc
Thích hợp để người bệnh được thoải mái, mau chóng lành bệnh hoặc nếu chết thì chết được thanh thản, nhẹ
nhàng.
4. Nhu cầu cơ bản của người bệnh và chăm sóc.
Theo Virginia Henderson trong cuốn các nguyên tắc điều dưỡng cơ bản (CSCB) thì thành phần của CSCB
gồm 14 yếu tố:
1. Ðáp ứng các nhu cầu về hô hấp
2. Giúp đỡ bệnh nhân về ăn, uống và dinh dưỡng
3. Giúp đỡ bệnh nhân trong sự bài tiết
4. Giúp đỡ bệnh nhân về tư thế, vận động và tập luyện.
5. Ðáp ứng nhu cầu ngủ và nghỉ ngơi.
6. Giúp bệnh nhân mặc và thay quần áo.
7. Giúp bệnh nhân duy trì thân nhiệt.
8. Giúp bệnh nhân vệ sinh cá nhân hàng ngày.
9. Giúp bệnh nhân tránh được các nguy hiểm trong khi nằm viện.
10. Giúp bệnh nhân trong sự giao tiếp.
11. Giúp bệnh nhân thoái mái về tinh thần, tự do tín ngưỡng.
12. Giúp bệnh nhân lao động, làm một việc gì đó để tránh mặc cảm là người vô dụng.
13. Giúp bệnh nhân trong các hoạt động vui chơi, giải trí.
14. Giúp bệnh nhân có kiến thức về y học.
5. Kết luận
Nhu cầu cơ bản của bệnh nhân và các nguyên tắc cơ bản của việc chăm sóc, cơ bản giống nhau, nhưng
không bao giờ có hai bệnh nhân có nhu cầu hoàn toàn giống nhau cá. Do đó, kế hoạch chăm sóc được xây
dựng riêng biệt tùy theo tuổi tác, giới tính, cá tính, hoàn cảnh văn hóa xã hội và khả năng thể chất và tinh
thần của người bệnh. Kế hoạch này còn bị ảnh hưởng bởi tình trạng bệnh lý sốt, nhiễm khuẩn, mất nước
hay suy nhược
Kế hoạch được thảo ra để đem lại sự chăm sóc đồng nhất và liên tục, nhưng nó cần thay đổi tùy theo sự
thích ứng với nhu cầu của người bệnh.
Ðiều quan trọng và cần nhấn mạnh là trong lúc cung cấp sự chăm sóc điều dưỡng cơ bản, người điều dưỡng
chuyên nghiệp sẽ có dịp nghe người bệnh và gia đình họ, để nhận định nhu cầu của người bệnh và để xây
dựng mối liên hệ nhân sự bổ ích cần thiết cho việc điều dường bệnh nhân một cách hữu hiệu nhất.
Quy trình điều dưỡng
1. Ðịnh nghĩa
Quy trình điều dưỡng là một loạt các hoạt động theo kế hoạch đã được định trước trực tiếp hướng tới một
kết quả riêng biệt. Nhằm ngăn ngừa, giảm bớt, hạn chế những khó khăn của bệnh nhân và thỏa mãn các
nhu cầu của người bệnh trong mọi hoàn cảnh.
2. Bốn bước của quy trình điều dưỡng:
Bước 1: Nhận định.
Bước 2: Yêu cầu (Lập kế hoạch chăm sóc).
Bước 3: Thực hiện.
Bước 4: Ðánh giá.
2.1. Nhận định (đánh giá ban đầu).
- Người điều dưỡng tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân.
- Thu thập thông tin, dữ kiện về tình trạng bệnh, sức khỏe hiện tại, nhu cầu để đưa ra chẩn đoán. Muốn làm
được như vậy người điều dưỡng cần phải:
2.1.1 Phỏng vấn bệnh nhân, người nhà:
- Nói chuyện, giao tiếp với bệnh nhân.
- Hỏi bệnh là một nghệ thuật đòi hỏi người điều dưỡng phải có kiến thức, khả năng phán đoán, sự khéo léo
tế nhị, có kinh nghiệm và nhạy bén.
- Nguyên tắc khi hỏi bệnh nhân:
+
Ðặt câu hỏi, lắng nghe bệnh nhân (nghe nhiều hơn hỏi bệnh).
+
Quan sát nét mặt, thái độ, cử chỉ, điệu bộ (Sử dụng tất cả các giác quan để quan sát).
+
Lưu ý các đề nghị, yêu cầu của người bệnh (nhu cầu).
- Dựa vào người nhà bệnh nhân (nếu bệnh nhân hôn mê, trẻ nhỏ, tâm thần).
- Dựa vào chẩn đoán của bác sĩ (ở phòng khám cáp cứu, khoa điều trị).
2.1.2 Khám thực thể.
- Tùy thuộc vào tình trạng, thể chất, tâm hồn của người bệnh trong và sau khi thực hiện kế hoạch chăm sóc.
- Khám thực thể nhằm xác định chức năng về thể chất của người bệnh (tình trạng bệnh).
 Người điều dưỡng sử dụng 4 giác quan:

Ðánh giá tình trạng toàn thân bệnh nhân từ đầu đến chân.
Sau khi phỏng vấn thu thập thông tin, theo dõi khám thực thể, dựa
vào sự vận dụng kiến thức giải phẫu sinh lý, triệu chứng, bệnh học,
điều dưỡng tổng hợp, phân tích đưa ra chẩn đoán điều dưỡng
(Chẩn đoán chăm sóc).
2.1.3 Chẩn đoán điều dưỡng.
- Giai đoạn nhận định kết thúc bằng chẩn đoán điều dưỡng.
- So sánh sự khác nhau giữa chẩn đoán điều dưỡng và chẩn đoán
điều trị điếu dưỡng.
Chẩn đoán điều dưỡng và chẩn đoán điều trị liên quan và bổ sung
cho nhau.
2.2. Yêu cầu chăm sóc
(lập kế hoạch chăm sóc)
2.2.1. Xác định vấn đề ưu tiên:
- Ðe dọa tính mạng người bệnh (cấp cứu, khó thở, điện giật ).
- Ảnh hưởng đến sự an toàn của người bệnh.
2.2.2 Xác định mục tiêu hành động:
- Mục tiêu phải tập trung vào bệnh nhân
- Mục tiêu phải trình bày chính xác.
- Nhất thiết phải dùng động từ chỉ hành động.
2.2.3 Lựa chọn hành động chăm sóc.
- Hành động chăm sóc phải phối hợp với chỉ định điều trị.
+
Nhìn:
Nhìn sự biểu lộ trên nét mặt.
Tư thế nằm trên giường
Màu sắc da, vết thương.
Kiểu thở, mức độ tỉnh táo
Quan sát tình trạng vệ sinh cá
nhân
+
Nghe: Giọng nói, tiếng thở, lời phàn
nàn
+
Sờ:
Ðếm mạch
Cảm giác nhiệt độ của da
Sự đàn hồi của da
(Véo da) tìm dấu hiệu mất nước
Da ẩm ướt, nhớp nháp, vã mồ hôi
Da khô
+
Ngửi:
Mùi nước tiểu
Mùi phân
Mùi dịch dẫn lưu
Mùi hơi thở ra
Chẩn đoán điều trị Chẩn đoán điều dưỡng
Mô tả một quá trình bệnh riêng biệt mà nó cũng
giống nhau đối với tất cả bệnh nhân
- Hướng tới xác định bệnh
- Duy trì không thay đổi trong suốt thời gian ốm
- Bổ sung cho chẩn đoán chăm sóc
- Chỉ dẫn hành động chăm sóc độc lập
- Mô tả sự phản ứng đối với một bệnh của bệnh nhân
mà nó khác nhau ở mỗi người.
- Hướng tới một cá nhân người bệnh
- Thay đổi khi phản ứng của bệnh nhân thay đổi.
- Bổ sung cho chẩn đoán điều trị
- Chỉ dẫn việc điều trị mà người y tá có thể tiến hành.
- Hành động chăm sóc phải phù hợp với chế độ chính sách của bệnh viện (Bảo hiểm y tế).
- Hành động chăm sóc phải truyền đạt tới bệnh nhân.
2.2.4 Viết kế hoạch chăm sóc.
- Viết kế hoạch chăm sóc có tính chất bắt buộc người điều dưỡng phải xem xét lại kế hoạch theo từng thời
kỳ để đảm bảo thực hiện những gì đề ra có đúng mục tiêu hay không?
- Nó minh họa cho sự chăm sóc toàn diện từ lúc vào cho đến khi ra viện.
- Khi viết kế hoạch chăm sóc phải đặt câu hỏi: Cái gì? Tại sao? Làm như thế nào?
Ở đâu? Ai làm? Làm khi nào?
- Viết đơn giản dễ hiểu cho tất cả các nhân viên khác.
+
Ngày, tháng
+
Viết đúng động từ hành động
Thí dụ:
Ðo lượng nước tiểu
Chườm lạnh
Ðo nhiệt độ, mạch, huyết áp
Thay đổi tư thế
+
Nội dung của y lệnh chăm sóc:
Hoạt động gì?
Thực hiện như thế nào?
+
Trong thời gian nào?
Thí dụ: 3 giờ/1ần; 15 phút/1lần; sáng, chiều
+
Người điều dưỡng viết y lệnh và người điều dưỡng thực hiện phải ký tên
Kết luận:
Viết kế hoạch chăm sóc có tác dụng:
- Giám sát các hành động của nhân viên.
- Truyền đạt tới nhân viên khác về tình hình bệnh nhân.
- Tiết kiệm thời gian.
- Nhân viên biết việc phải làm.
- Nâng cao hiệu quả chăm sóc.
2.3 Thực hiện kế hoạch chăm sóc
- Khi thực hiện kế hoạch chăm sóc phối hợp với nhân viên y tế khác, với bệnh nhân, với người nhà bệnh
nhân.
- Khi thực hiện kế hoạch chăm sóc người điều dưỡng luôn luôn nhận định bệnh nhân kể cả sự phản hồi của
việc chăm sóc.
+
Thực hiện các mệnh lệnh điều trị của bác sĩ (tiêm, uống, thay băng )
+
Thực hiện các kế hoạch liên quan đến nhu cầu của người bệnh.
+
Kế hoạch chăm sóc phải theo dõi hàng ngày, giờ
+
Phải phù hợp với phương tiện, trang thiết bị hiện có và nhân lực của khoa.
- Hành động chăm sóc phải được thực hiện với trách nhiệm cao và mỗi điều dưỡng viên phải chịu trách
nhiệm về công tác của mình làm.
- Trong quá trình thực hiện kế hoạch chăm sóc thấy có gì bất thường phải báo ngay bác sĩ để phối hợp điều
trị và chăm sóc tất hơn.
2.4 Ðánh giá.
- Kế hoạch chăm sóc là phương tiện đánh giá sự hoàn thành các mục tiêu đề ra.
- Kết quả của kế hoạch chăm sóc là ở chỗ tình trạng bệnh nhân khá hơn.
- Lập được kế hoạch chăm sóc, thực hiện mà không có sự đánh giá sẽ không thể nâng cao được chất lượng
chăm sóc.
- Có đánh giá mới biết được mức độ tốt, chưa tốt để có kế hoạch thay đổi cho phù hợp những ngày, giờ sau.

Họ tên bệnh nhân:
Chẩn đoán:
Tuổi:


Vệ sinh đôi tay, mang và tháo khẩu trang
1. Vệ sinh đôi tay:
1.1 Mục đích:
Rửa tay trong các cơ sở khám chữa bệnh là một thao tác kỹ thuật cơ bản mà người điều dưỡng phải thực
hiện trước khi tiến hành bất kỳ thao tác kỹ thuật y tế nào.
Rửa tay đúng kỹ thuật nhằm mục đích loại trừ vi khuẩn tối đa tránh nhiễm khuẩn chéo.
1.2 Phương tiện:
- Vòi cung cấp nước sạch ấm.
+
Có thể dùng nước máy.
+
Có thể dùng nước chứa trong thùng có vòi nước.
+
Tốt nhất dùng nước đã qua lọc vi khuẩn hoặc nước đun sôi để nguội.
- Xà phòng sát khuẩn hoặc dung dịch rửa tay như: Chlorhexidin, Iodophor
- Bàn chải cọ tay: Dùng bàn chải đã khử khuẩn (hấp hoặc ngâm dung dịch sát khuẩn)
- Khăn lau tay vô khuẩn.
1.3 Nguyên tắc rửa tay.
- Tháo bỏ đồ trang sức ở tay: nhẫn, vòng, đồng hồ, v.v
- Mặc trang phục, đeo khẩu trang, đội mũ.
- Trình tự rửa tay. Bàn tay rửa trước, cẳng tay rửa sau, trong bàn tay thì ngón tay rửa trước, lòng và mu bàn
tay rửa sau.

Khoa

Phòng

Giường


KẾ HOẠCH CHĂM SÓC
Ngày tháng Nhận địnhKế hoạch chăm sóc Thực hiện Ký tên Ðánh giá

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét