Thứ Sáu, 18 tháng 4, 2014

đảng bộ các tỉnh ven biển nam trung bộ lãnh đạo tổng khởi nghĩa tháng tám 1945 tại địa phương


LINK DOWNLOAD MIỄN PHÍ TÀI LIỆU "đảng bộ các tỉnh ven biển nam trung bộ lãnh đạo tổng khởi nghĩa tháng tám 1945 tại địa phương": http://123doc.vn/document/1054939-dang-bo-cac-tinh-ven-bien-nam-trung-bo-lanh-dao-tong-khoi-nghia-thang-tam-1945-tai-dia-phuong.htm


xem Chính phủ Trần Trọng Kim nh là một chính phủ tiền cách mạng (pre-
revolutionary) [143, 2]. Trong tác phẩm chuyên khảo "Vietnam 1945. The quest
for power" David G.Marr lại cho rằng: "Sau ngày 9-3-1945 các sự kiện diễn
ra theo một cái đà tự phát, không có bàn tay điều khiển nào. Những đảng viên
cộng sản và những ngời tham gia Việt Minh ở địa phơng đã giành nhiều thắng
lợi do sự ứng phó nhanh chóng của họ trớc những thay đổi đột ngột hơn là do
theo một kế hoạch điều khiển nào" [142, 6] và "Việt Nam đã kinh qua một cuộc
khởi nghĩa quy mô toàn quốc, nhng cha phải một cuộc cách mạng" [142, 4].
Đó là những nhận định đã [88, 68-70], [105, 11-16], [100, 42-46] và cần tiếp tục
thảo luận trên cơ sở khách quan, khoa học, bằng chính những sử liệu phong
phú và t duy khoa học.
Các nhà sử học trên càng không có điều kiện với tới các sự kiện lịch
sử của các tỉnh VBNTB. Riêng D G. Marr tuy có dành 27 trang trong tổng
số 602 trang tác phẩm của mình [142, 431-457] để viết về khu vực này nh-
ng cũng chỉ điểm qua, không hệ thống.
2.4. Từ sau năm 1975 Tiểu ban Lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo
các tỉnh VBNTB có điều kiện thuận lợi để nghiên cứu sâu về quá trình vận
động cách mạng 1939 - 1945 tại địa phơng mình. Đến nay tất cả 8 tỉnh
thành trong khu vực đã xuất bản sách Lịch sử đảng bộ tỉnh và trên 2/3 số
huyện có sách Lịch sử đảng bộ huyện thời kỳ 1930 - 1945. Viện Lịch sử
Đảng cũng đã phối hợp với Hội đồng biên soạn Lịch sử Nam Trung Bộ
kháng chiến xuất bản sách "Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 - 1975)" [64].
Sách chuyên đề có "Cuộc khởi nghĩa Ba Tơ và đội du kích Ba Tơ" [16]
và các sách hồi ký nh: "Từ núi rừng Ba Tơ" [65], "Bình minh Ba Tơ" [55],
"Bớc qua đầu thù" [37], "Lên đờng thắng lợi" [89], "Những ngày tháng
Tám" [82] có đề cập đến phong trào cách mạng các tỉnh VBNTB.
Những cuốn lịch sử đảng bộ tuy đã nêu lên đợc những sự kiện cụ
thể, sinh động về quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 của địa phơng
5
nhng chỉ ở phạm vi từng tỉnh, cha đề cập đến phong trào chung có tính liên
kết tiêu biểu của khu vực. Mặt khác, vẫn có một vài cuốn cha phản ánh đầy
đủ các mặt của cao trào cách mạng này tại địa phơng mình. Có những vấn
đề quan trọng còn bỏ ngỏ, cha giải quyết thấu đáo hoặc còn đang tranh
luận. Chẳng hạn, nguyên do dẫn đến tình trạng thiếu đoàn kết, nhất trí
trong nội bộ những ngời cộng sản tại một số tỉnh thời gian đầu sau ngày 9-
3-1945, việc vận động tầng lớp trung gian ở các địa phơng tuy có đề cập
đến nhng vẫn còn hạn chế
Sách "Nam Trung Bộ kháng chiến (1945 - 1975)" tuy mang tính khu
vực nhng trọng tâm của sách là hai cuộc kháng chiến 1945 - 1975, quá trình
vận động cách mạng 1939 - 1945 chỉ đợc điểm lớt qua, cha khảo cứu tổ chức
cơ sở Đảng, đảng viên, Mặt trận Việt Minh, quần chúng, lực lợng vũ trang
và vũ khí của cả khu vực.
Nh vậy, cho đến nay vẫn cha có công trình nghiên cứu riêng về sự
lãnh đạo quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 của đảng bộ các tỉnh
VBNTB một cách có hệ thống và có tính khái quát cao.
Tuy mức độ liên quan đến đề tài luận án có khác nhau, song những
công trình đã nêu trên là cơ sở quan trọng để tác giả tham khảo và kế thừa
trong việc tiếp xúc các sự kiện lịch sử, nguồn t liệu và phơng pháp luận vào
quá trình thực hiện đề tài.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1. Mục đích
Phản ánh một cách toàn diện, hệ thống, toàn bộ hoạt động của đảng
bộ các tỉnh VBNTB từ 1939 - 1945 và toàn bộ phong trào cách mạng của
quần chúng dới sự lãnh đạo trực tiếp của các đảng bộ này.
3.2. Nhiệm vụ
Làm rõ quá trình đảng bộ các tỉnh VBNTB chuẩn bị về mọi mặt để
tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền: Xây dựng đảng bộ về tổ chức và t t-
6
ởng; xây dựng lực lợng chính trị của quần chúng và lãnh đạo quần chúng
đấu tranh; xây dựng lực lợng vũ trang, căn cứ địa và khả năng chớp thời cơ
khởi nghĩa.
Phân tích những u điểm và hạn chế của các đảng bộ trong lãnh đạo
quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 tại địa phơng và nêu lên những
kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
4. Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
4.1. Đối tợng nghiên cứu của luận án là sự lãnh đạo của Đảng, trực
tiếp là đảng bộ các tỉnh VBNTB.
4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận án:
Luận án trình bày ở mức độ hợp lý phong trào cách mạng tại các
địa phơng trớc khi có sự chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc của Đảng và có đề
cập tới những nét chính của phong trào ở cả khu vực miền Trung cũng nh
cả nớc trong cùng thời kỳ, nhng trọng tâm của luận án là tập trung trình
bày quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 tại một khu vực cụ thể là
các tỉnh VBNTB.
5. Cơ sở lý luận, nguồn tài liệu và phơng pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Tác giả luận án dựa vào quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về
phép biện chứng về khởi nghĩa vũ trang, t tởng Hồ Chí Minh và những quan
điểm của Đảng về xây dựng Đảng, vận động quần chúng, xây dựng lực l-
ợng vũ trang trong cách mạng dân tộc dân chủ, đặc biệt là khởi nghĩa giành
chính quyền làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu.
5.2. Nguồn tài liệu
Thực hiện đề tài luận án, chúng tôi chủ yếu sử dụng t liệu trong các
sách lịch sử đảng bộ các tỉnh, huyện trong khu vực VBNTB kết hợp với các
Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ơng Đảng, Xứ ủy Trung Kỳ đã công bố trong
các cuốn văn kiện Đảng.
7
Đặc biệt, để bổ sung thêm những nguồn t liệu mới cha đợc công bố,
chúng tôi đã tập trung khai thác một số t liệu thu thập đợc tại các trung tâm
lu trữ ở Trung ơng: Cục lu trữ văn phòng Trung ơng Đảng, Trung tâm lu trữ
Trung ơng I, Trung tâm lu trữ Trung ơng III, Viện Bảo tàng Cách mạng Việt
Nam, Phòng t liệu Viện Lịch sử Đảng và các phòng t liệu Tiểu ban lịch sử
Đảng thuộc các Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy từ Đà Nẵng đến Bình Thuận. Kết
quả công tác su tầm này đã đem lại cho chúng tôi một khối lợng các loại tài
liệu: Nghị quyết, Chỉ thị, cả biên bản kiểm thảo về Cách mạng Tháng Tám
ở một số tỉnh, một số lớn hồi ký cha công bố, khai thác hết, một số tài liệu
của mật thám Pháp liên quan đến phong trào cách mạng các tỉnh VBNTB
Tuy nhiên, đối với loại hồi ký và tài liệu của mật thám Pháp chúng tôi rất
thận trọng trong việc sử dụng.
Trong luận án, chúng tôi đã trích dẫn trực tiếp 81 đầu sách, 54 đơn
vị tài liệu còn ở dạng lu trữ, 8 hồi ký cha công bố.
Chúng tôi cũng thực hiện các cuộc phỏng vấn các nhân chứng lịch
sử để tìm hiểu, xác minh các sự kiện: đồng chí Đặng Thí nguyên Bí th tổ
chức cộng sản tại nhà đày Buôn Ma Thuột trong hai năm 1944 - 1945, Trung
tớng Nguyễn Đôn, nguyên tỉnh ủy viên Quảng Ngãi năm 1945, các đồng
chí Nguyễn Thúy, nguyên tỉnh ủy viên Quảng Nam năm 1945, Đoàn Bá Từ,
cán bộ tiền khởi nghĩa thành phố Đà Nẵng, đồng chí Tố Hữu phụ trách Ban
vận động thống nhất đảng bộ Trung Kỳ năm 1945.
Đồng thời, chúng tôi cũng trực tiếp trao đổi với các đồng chí trởng
tiểu ban nghiên cứu lịch sử Đảng thuộc Ban Tuyên giáo các tỉnh thành
trong khu vực về những vấn đề lịch sử từ 1939 - 1945 tại địa phơng: Các
đồng chí Ngô Gia Lầu (Quảng Nam - Đà Nẵng), Tạ Thanh (Quảng Ngãi),
Trần Minh ảnh, Nguyễn Đỗ Quyên (Bình Định), Nguyễn Niên (Phú Yên),
Lê Văn Thỉnh (Khánh Hòa), Trần Ngọc Quế (Ninh Thuận), Trần Mạnh Tờng
(Bình Thuận).
8
5.3. Phơng pháp nghiên cứu
Trong luận án chúng tôi kết hợp phơng pháp lịch sử và phơng pháp
lôgic để tái hiện lại phong trào. Đồng thời, chúng tôi sử dụng phơng pháp
thống kê để thống kê, định lợng các tổ chức Đảng, quần chúng, số lợng tù
chính trị ở các địa phơng và phơng pháp so sánh để so sánh phong trào giữa
các tỉnh trong khu vực VBNTB và giữa các tỉnh này so với cả nớc.
6. Đóng góp khoa học của đề tài
6.1. Về t liệu
Su tầm, chỉnh lý, bổ sung thêm một bớc để xây dựng một hệ thống
t liệu tơng đối hoàn chỉnh về quá trình vận động cách mạng 1939 - 1945 tại
các tỉnh VBNTB. Trong đó, có thêm những t liệu mới có giá trị.
6.2. Về nội dung
- Tập trung dựng lại một cách có hệ thống, toàn diện quá trình vận
động cách mạng 1939 - 1945 tại các tỉnh VBNTB.
- Thống kê số lợng tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên ở các tỉnh tại
những thời điểm có tính chất bớc ngoặt (1930, 1939, 1945) và số lợng tổ
chức Việt Minh, quần chúng, lực lợng vũ trang, vũ khí (súng) tại các tỉnh
trớc khi bớc vào tổng khởi nghĩa.
- Làm rõ thêm quá trình xây dựng Đảng về tổ chức tại các tỉnh từ
1930 - 1945 và quá trình xây dựng Đảng về t tởng trớc khi bớc vào tổng
khởi nghĩa.
- Làm rõ hơn hoạt động của các đảng bộ trong công tác vận động
các giới cứu quốc thời kỳ tiền khởi nghĩa tại các địa phơng. Vấn đề vận
động những tầng lớp trung gian trong thời gian này và vai trò của các chiến
sĩ tù chính trị cộng sản khi trở về địa phơng.
- Đa ra một số nhận định chung về phong trào cách mạng ở các tỉnh
qua các thời kỳ (1930-1931, 1932-1935, 1936-1939, 1939-1945), nhấn
9
mạnh tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo của đảng bộ các tỉnh VBNTB trong
việc vận dụng đờng lối chung của Trung ơng vào tình hình cụ thể của địa
phơng, nhận định về một số vấn đề cụ thể nh hoạt động của đội du kích Ba
Tơ, nguyên do mất đoàn kết trong nội bộ những ngời cách mạng ở một số
tỉnh, về khả năng chớp thời cơ khởi nghĩa ở từng tỉnh.
7. ý nghĩa thực tiễn của đề tài
7.1. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần quan trọng vào
công tác giáo dục truyền thống cách mạng, việc nghiên cứu và giảng dạy
lịch sử Đảng nói chung, lịch sử Cách mạng Tháng Tám 1945 nói riêng một
sách sinh động, phong phú.
7.2. Kết quả nghiên cứu của luận án cũng sẽ gợi mở những suy nghĩ
để có thể vận dụng vào công cuộc đổi mới hiện nay, trực tiếp nhất là đối với
các tỉnh VBNTB.
8. Bố cục của luận án
Luận án đợc trình bày trong 171 trang, chia làm: Phần mở đầu,
3 chơng, gồm 8 tiết, và kết luận. Ngoài ra luận án còn có 8 phụ lục, 2 bản
đồ và 1 danh mục tài liệu tham khảo (gồm 143 đơn vị tài liệu).
10
Chơng 1
Đảng bộ các tỉnh ven biển nam Trung Kỳ
thực hiện chủ trơng chuyển hớng chỉ đạo chiến lợc
và xây dựng lực lợng của Đảng (9/1939 - 3/1945)
1.1. Phong trào cách mạng các tỉnh ven biển nam Trung
Kỳ thời kỳ 1930 - 9/1939
1.1.1. Sơ lợc về điều kiện địa lý - nhân văn, chính sách thống trị
của thực dân Pháp và Nam triều tại các tỉnh ven biển Nam Trung Kỳ
Điều kiện địa lý - nhân văn
Các tỉnh VBNTK hay Nam Trung Bộ (từ 1884 đến tháng 4-1945 gọi
là kỳ. Sau tháng 4-1945 Chính phủ Trần Trọng Kim gọi là bộ. Trong luận
án, chúng tôi dùng tên gọi Nam Trung Kỳ hoặc Nam Trung Bộ tùy thuộc
vào sự thay đổi này) nằm dọc theo ven biển, chạy dài từ đèo Hải Vân đến
hết huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận (đèo Hải Vân là ranh giới địa lý nằm
đoạn giữa các tỉnh miền Trung. Huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận là ranh
giới chính trị quy định cực nam của xứ Trung Kỳ theo hiệp ớc Patenôtre
năm Giáp Thân 1884 ký kết giữa thực dân Pháp và triều đình Huế) bao gồm
thành phố Đà Nẵng và các tỉnh Quảng Nam, Quãng Ngãi, Bình Định, Phú
Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận.
Diện tích tự nhiên toàn khu vực 41.695 km
2
, dân số năm 1943 là
3.039.100 ngời [140, 27]. Dân tộc ít ngời chiếm hơn 5% dân số trong vùng,
gồm có ngời Chăm, Ba Na, Cơ Tu, Ve, Gié Triêng, Cor, Rắc Lay Trong đó
dân tộc Chăm chiếm số đông hơn cả.
Một phía đầu khu vực ở gần kinh đô của Nam Triều và một phía gần
đất thuộc địa Nam Kỳ của thực dân Pháp nên các tỉnh này có một vị trí địa
chính trị quan trọng.
11
Do kề núi, sát biển, hình thái núi rừng phong phú, lại lắm sông và
nhiều nhánh núi đâm ra biển làm cho đồng bằng các tỉnh nhỏ, hẹp. Địa giới
giữa các tỉnh đợc xác định chủ yếu theo lu vực các sông, đèo, núi nên giao
thông không đợc thuận lợi nh các tỉnh trong Nam và ngoài Bắc.
Ngoài thuận lợi về đờng biển, các tỉnh VBNTK còn có quốc lộ 1 và
đờng sắt xuyên Việt chạy dọc. Từ quốc lộ 1 có nhiều tuyến đờng ngang
chạy lên các tỉnh Tây Nguyên.
Nhân dân các tỉnh VBNTK đã xây dựng đợc cho mình một đời sống
văn hóa có những sắc thái riêng trong lối ứng xử, trong dân ca và nhạc vũ.
Do khác hẳn với ngoài Bắc là địa bàn tụ c và khai thác lâu đời của ngời
Việt, cũng khác với trong Nam đợc khai phá muộn hơn, lối sống ngời nông
dân vùng này chất phác, cần kiệm, không quá câu nệ, lễ nghi, nhng cũng
không quá phóng khoáng. Nhìn chung, ngoài tinh thần yêu nớc và tính
năng động cách mạng, con ngời ở đây cứng cỏi, trực tính, thiên về biện bác
lý sự, trọng việc nghĩa, có ý thức cộng đồng, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau lúc
khó khăn hoạn nạn. Những đức tính này ít nhiều tác động trực tiếp hoặc
gián tiếp đến nét riêng trong quá trình đấu tranh cách mạng của địa phơng.
Tính năng động cách mạng không chỉ thể hiện trong những lần đi đầu các
phong trào yêu nớc của những giai đoạn trớc (cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ
XX) mà còn thể hiện trong suốt các thời kỳ cách mạng từ 1930 - 1945. Đó
là thái độ chủ động đến với Đảng, tự đi tìm Đảng, đấu tranh theo đờng lối
của Đảng; quyết đoán, chủ động, sáng tạo trớc những thời điểm có tính bớc
ngoặt của lịch sử, thẳng thắn, dứt khoát trong đấu tranh t tởng đối với các lập
trờng chính trị cải lơng, đế quốc. Tuy nhiên, cũng do trực tính, nhiều khi đến
nóng nảy, thái quá trong hoạt động cách mạng, dẫn đến có quá "tả" hoặc
gay gắt trong đấu tranh t tởng nội bộ mà sự kiện Tuy Hòa - Phú Yên và vụ
xử tử oan đồng chí Võ Xán ở Bình Định trong Cách mạng tháng Tám mà
luận án sẽ đề cập trong chơng 3 là một dẫn chứng.
12
Chính sách thống trị của thực dân Pháp và Nam triều.
Cũng nh nhân dân toàn khu vực miền Trung, nhân dân các tỉnh
VBNTK phải chịu trực tiếp cả ách áp bức của phong kiến và thực dân.
Về chính trị, khác với Nam Kỳ là đất thuộc địa, Bắc Kỳ là đất "nửa
bảo hộ", các tỉnh từ Quảng Nam đến Bình Thuận nằm trong xứ Trung Kỳ là
đất "bảo hộ" của thực dân Pháp (trừ Đà Nẵng là đất "nhợng địa" của Pháp
từ 1888 với tên gọi Tourane). Triều đình Huế vẫn còn đợc duy trì nhng
quyền hành thực sự đều nằm trong tay viên khâm sứ Pháp.
Thực dân Pháp tăng cờng bộ máy quân sự, cảnh sát, tòa án và nhà
tù. Ngoài trại giam ở mỗi phủ huyện và nhà tù tỉnh (có tỉnh đến 2 nhà tù)
còn có nhà tù cho toàn xứ và hàng loạt căng an trí để trấn áp mọi hoạt động
yêu nớc của nhân dân.
Về kinh tế, hàng loạt chi nhánh công ty t bản Pháp đợc lập nên để vơ
vét các nguồn lợi kinh tế và độc quyền kinh doanh. Đà Nẵng là nơi tập
trung nhiều nhất các công ty của Pháp, tiếp đến là Quy Nhơn. Chỉ riêng tỉnh
Bình Định từ 1887 - 1925 đã có hơn 40 công ty và hãng buôn của t bản Pháp.
T bản Pháp và cố đạo Nhà Chung đua nhau chiếm đất lập đồn điền,
khai thác nguyên vật liệu ở các tỉnh. Tại Quảng Nam t sản Pháp chiếm gần
7% diện tích đất canh tác để lập đồn điền. ở Bình Định bình quân số ruộng
đất của một ngời Pháp trong năm 1930 gấp 160 lần bình quân số ruộng đất
của dân trong tỉnh. ở Quảng ngãi cố đạo Nhà Chung chiếm đến 8.266 ha đất.
Thực dân Pháp thực hiện chính sách ngu dân về mặt giáo dục, đầu
độc về mặt văn hóa. Kết quả "khai hóa" của thực dân Pháp chỉ là "90%
nhân dân Nam Trung Bộ mù chữ, 10.000 dân mới có 60 ngời học tiểu học,
1 ngời học trung học, mỗi tỉnh ở đồng bằng chỉ có 1 đến 3 trờng tiểu học,
từ Quảng Nam đến Bình Thuận chỉ có 1 trờng trung học quốc lập, ở Quy
Nhơn mỗi năm thu nhận 30 - 40 học sinh" [64, 113].
13
Các tệ nạn xã hội đợc bọn thực dân khuyến khích để đầu độc đời
sống tinh thần nhân dân. Năm 1933 riêng dân Bình Định đã phải "tiêu thụ"
1.200 kg thuốc phiện bằng tiền 10.000 tấn thóc [44, 17]. Theo thống kê của
Pháp, trong năm 1929 tại khu vực thị trấn Tam kỳ (Quảng Nam) trong
1.500 dân đã có đến 472 ngời nghiện thuốc phiện [49, 11]. Trong khi đó, ở
mỗi tỉnh chỉ có một bệnh viện vài mơi giờng, mỗi huyện chỉ có một trạm xá,
thuốc men chủ yếu chỉ là aspirine và quinin.
Cùng với chính sách thực dân xâm lợc của thực dân Pháp là chính
sách phản động của Nam triều. Chế độ phong kiến triều Nguyễn sử dụng
luật Gia Long (đến 1943 có luật sửa đổi đôi chút của Bảo Đại) làm "phép
nớc" khống chế mọi quyền tự do dân chủ của nhân dân. Dới "phép nớc" là
"lệ làng" do cờng hào địa phơng lũng đoạn, ràng buộc áp chế ngời dân.
Giai cấp địa chủ bóc lột nông dân bằng cách cớp đoạt ruộng đất, phát
canh thu tô, cho vay nặng lãi. Địa chủ ở Quảng Nam chiếm đến 85.220 ha
ruộng đất, bằng nửa số ruộng đất trong tỉnh. Số địa chủ ở Quảng Ngãi tuy
có ít hơn nhng vẫn chiếm tới 56% ruộng đất (38.000/67.800 ha) [8, 19]. ở
Bình Định bình quân chiếm hữu ruộng đất của một địa chủ gấp 12 lần so với
một nhân khẩu bần nông, hơn 4 lần so với một nhân khẩu trung nông [44,
21]. Bằng lối bóc lột cho vay nặng lãi địa chủ ở đây có nơi cho vay tiền lấy
lãi một năm từ 13-15%.
Nhìn một cách tổng quát, xu hớng chính trị của địa chủ ở các tỉnh
VBNTK không giống nhau, lại thờng phân hóa qua các phong trào yêu nớc
và cách mạng. Nhất là trong thời kỳ 1941 - 1945 trừ một số lừng chừng còn
phần đông biết tỏ ra thức thời, có xu hớng ngả theo cách mạng. ở các tỉnh
cực Nam Trung Kỳ tính chất trên của địa chủ càng rõ.
Đại bộ phận nông dân bị cớp đoạt ruộng đất phải đi cày rẻ cho địa
chủ, chịu địa tô cao, phải đi vay trả lãi nặng. Họ còn bị nộp thuế nặng nề.
Đời sống của nông dân đã khốn khổ, đời sống công nhân càng khốn khổ
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét